Đang tải...
Bạn đang ở:  Trang Chủ  >  Thời Sự  >  Bài hiện tại

Kính gửi ông Tư Sang

11.1.2018  /  Không có bình luận

FB Mạc Văn Trang

Cựu Chủ tịch nước Trương Tấn Sang. Ảnh: internet

Sáng nay tôi mới đọc bài của Cựu Chủ tịch Trương Tấn Sang, tức ông Tư Sang, nhan đề: “Ngay lúc này, Đảng phải kiên quyết hành động”, đăng ngày 08/01/2018 trên VNNet và nhiều báo khác. Thấy có đôi điều muốn chia sẻ với ông Tư.

Cũng là người hưu trí, quan tâm đến vận mệnh đất nước, tôi rất cảm thông và trân trọng nỗi niềm của ông Tư nghĩ đến nước, đến dân…

Tôi cảm nhận, trong giới lãnh đạo, ông Tư là người trung dung, không “tả” hay “hữu”; ông là người dám nói thẳng những nhức nhối của chế độ ngay khi đương chức, như: “Một con sâu đã nguy hiểm rồi, một bầy sâu là ‘chết’ cái đất nước này”… (7/5/2011); hay: “Chúng ta vẫn còn phải trăn trở, đau lòng khi nghe những câu truyền miệng lâu nay trong nhân dân: “Nhất hậu duệ, nhì tiền tệ, ba quan hệ, bốn trí tuệ…” trong công tác cán bộ” (4/9/2014); ông cũng thẳng thắn nói ra những tệ hại của “đồng chí X” khi đương chức… Ông cũng là người hay lắng nghe dân, có những lời nói, việc làm gần dân hơn nhiều vị lãnh đạo khác. Hai ông bà từng có lần đi ăn cơm bình dân 2.000đ một suất cùng bà con lao động…

Từ khi nghỉ hưu, ông Tư không thản nhiên “Vui thú điền viên” hay chăm lo xây biệt phủ, quanh quẩn với vợ mới trong “lầu vàng, điện ngọc”… như nhiều vị đầu triều khác. Ông Tư vẫn trăn trở, chia sẻ với xã hội nhiều suy tư đáng quý… Tóm lại, ông Tư là một cựu lãnh đạo, tôi có cảm tình…

Về bài ông vừa công bố, có nhiều ý kiến đã bình luận rồi. Tôi chỉ muốn trao đổi về câu ông Tư thốt lên một cách bi quan, thể hiện tâm trạng bế tắc, nếu không muốn nói là đau đớn, tuyệt vọng:

“Nếu tình hình tham nhũng và suy thoái không được loại trừ, Ðảng này, chế độ này, đất nước này sẽ đi về đâu”?

Các triết gia nói, khi biết đặt ra câu hỏi, cũng là lúc sẽ tìm ra câu trả lời! Trong câu trên có hai ý:

1. Làm sao loại trừ được “tham nhũng, suy thoái”?

Tôi tin rằng, đây là điều ông Tư đau đớn, bế tắc nhất. Ông Tư từng làm bí thư Đảng ở TP HCM nhiều năm, đã tận tâm, tận lực, tìm trăm mưu, ngàn kế để chống tham nhũng, nhưng có hiệu quả gì đâu! Tinh hình tham nhũng cứ “ổn định và phát triển” không ngừng. Tham nhũng dẫn cán bộ đến tha hóa, suy thoái, và từ đó lại càng tham nhũng tệ hại hơn. “Bầy sâu” cứ ngày càng sinh sôi, béo mầm! Tôi biết, ông bất lực, đau xót lắm!

Thế rồi ông ra Hà Nội, từng làm Thường trực Ban bí thư Đảng, rồi Chủ tịch nước. Ở những cương vị này, ông đã nghiên cứu nhiều về lý luận Mac – Lê…, đã xem lại các Nghị quyết Đảng, nhất là từ Đại hội Đảng lần thứ IV, V, VI, VII đến XII. Các văn kiện của Đảng, không ĐH nào, nhiệm kỳ nào, không nói đến “Kiên quyết chống tham nhũng, suy thoái trong cán bộ đảng viên”; Không nhiệm kỳ TƯ nào không có nghị quyết về “Đổi mới công tác tổ chức, cán bộ”; rồi”Tăng cường công tác kiểm tra, kỷ luật, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, suy thoái”, rồi “Đẩy mạnh phê, tự phê”, “Ra sức học tập làm theo gương Chủ tịch HCM”, vân vân và vân vân. Nhưng mấy mươi năm, “Tình hình tham nhũng, suy thoái” cứ gia tăng, nguy hiểm. Có lần tôi đã viết, những hiện tượng xã hội ta chống mãi không được, nó cứ tồn tại, phát triển, nghĩa là nó có quy luật của nó. Phải thấy và giải quyết từ gốc của hiện tượng đó, mới thay đổi được.

Ông Tư đã nghiên cứu và đi thăm nhiều nước thì biết rõ: Độc tài, toàn trị đẻ ra chuyên quyền, độc đoán, quan liệu, lợi ích nhóm, tham nhũng, lũng đoạn xã hội, tàn phá đất nước và hủy hoại mọi giá trị Công lý, Bình đẳng, Dân chủ, Chân, Thiện, “Yêu Tổ quốc, Yêu đồng bào”…

Từ những gì ông Tư đã thể nghiệm, chắc biết rằng, thể chế hiện nay và các biện pháp đã dùng, hết cách rồi, không giải quyết được vấn nạn tham nhũng và suy thoái cán bộ! Vậy giải quyết cách nào? Xin ông Tư đọc lại các Thư góp ý, Kiến nghị của các Nhân sĩ, Trí thức trong nước và xem kinh nghiệm các nước văn minh, như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, và nhất là kinh nghiệm các nước Đông Âu, mới thoát khỏi thể chế XHCN, độc đảng toàn trị để phát triển xã hội dân chủ, đã hạn chế tối đa nạn tham nhũng và sự suy thoái của các quan chức như thế nào?

2. “Ðảng này, chế độ này, đất nước này sẽ đi về đâu”?

Thưa ông Tư, trả lời câu hỏi trên một cách căn cơ, rốt ráo thì sẽ biết ta cần đi về đâu để có tương lai tươi sáng. “Đảng và chế độ” chỉ là những thiết chế chính trị nhất thời. Trong các mối quan hệ xã hội thì quan hệ huyết thống, giống nòi, dân tộc là bền vững, gắn bó keo sơn nhất; thứ hai là quan hệ văn hóa, tức những giá trị văn hóa, truyền thống tổ tiên để lại, ngôn ngữ, phong tục tập quán, những sức mạnh tinh thần đã gắn kết nhân dân, các dân tộc trên đất nước này lại, thành khối đại đoàn kết, như ông Tư có nhắc đến “truyền thống lịch sử” trong bài viết.

Còn “Đảng và chế độ” chỉ là những thiết chế chính trị nhất thời; nó không phù hợp với thời đại thì tất yếu mất đi, thay bằng “Đảng mới, chế độ mới”, tiến bộ hơn. Lịch sử loài người và lịch sử các dân tộc đều theo quy luật đó. Lịch sử nước ta cũng đã như vậy và tất yếu sẽ như vậy! Chỉ có dân tộc, nhân dân, đất nước là trường tồn!

Đất nước sẽ đi về đâu? Nhân dân sẽ đi về đâu? Thưa ông Tư, nhân dân đã biết lựa chọn từ lâu rồi! Hàng mấy triệu người dân đã “vượt biên” bỏ “Đảng và chế độ” ra đi, bất chấp cả cái chết! Họ đi về đâu, thưa ông Tư? Có ai đi sang các nước có “Đảng và Chế độ” giống Việt Nam, là Trung quốc, Triều Tiên, Cuba không? Không! Ngày nay hàng chục vạn người dân đã, đang phải đút lót, chạy chọt để thoát khỏi “Đảng và Chế độ” đi làm “cu li” cho các nước Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Đài Loan… Rồi họ quyết tâm trốn ở lại.

Ông Tư có biết không, hiện nay không biết bao nhiêu thanh niên phải tốn kém hàng mấy trăm triệu, thậm chí hàng mấy tỉ đồng để được đưa sang mấy nước Đông Âu và sống trốn lủi, tìm cách định cư ở lại đây. Tôi đã rất bất ngờ, khi hỏi một thanh niên đi du lịch sang châu Âu, muốn có visa đi du lịch sang đây, phải đặt cọc 03 tỉ đồng! Tôi hỏi sao lại thế? Anh ta đáp, nếu không vậy, được cấp visa tự do thì thanh niên mình bỏ nước đi hết! Anh ta sẵn sàng mất 3 tỉ để bỏ “Đảng và Chế độ” ra đi và ở lại đây!

Thế rồi các quan chức ta có ai cho con đi du học ở mấy nước có “Đảng và Chế độ” giống VN không? Vậy là người dân ta đã biết, đã chọn từ lâu rồi, ông Tư ạ. Sao cứ nuối tiếc, ôm ấp mãi làm gì cái thứ mà người dân đã chán ghét, muốn rời bỏ nó mà đi!? Có rũ bỏ được những tín điều ăn sâu, dính mắc nơi trí não, mới bừng hiểu và giác ngộ, nhìn ra con đường sáng, để vững vàng, quyết đoán, tự tin đi tới.

Kính chúc ông Tư mạnh khỏe, hạnh phúc.

 (Nguồn: baotiengdan.com)

——————————————-

2 bài tham khảo

Bài thứ nhất của tác giả Nguyễn Đình Cống

Nhận thức muộn và nhầm của cựu Chủ tịch nước

Đầu năm 2018 ông Trương Tấn Sang viết bài: “Lịch sử giúp chúng ta hiểu về hiện tại, dự báo tương lai”. Bài được nhiều báo đăng, có lắm người quan tâm và bình luận. Cựu Chủ tịch trình bày việc quan sát di tích Hoàng thành Thăng Long, nhìn ngắm Hồ Tây, xem tiểu thuyết Bão táp Triều Trần, đọc Đại Việt sử ký, ngẫm nghĩ về Thất trảm sớ của Chu Văn An, về 5 nguyên nhân gây mất nước do Lê Quý Đôn tổng kết v.v…, để rồi tức cổ nghiệm kim, suy nghĩ sâu xa về sự hưng vong của đất nước.

Ông hiểu ra rằng đất nước hưng thịnh nhờ có vua sáng tôi hiền. Ông viết: “Con đường đi tới quyền lực và đưa đất nước lên tới đỉnh cao hưng thịnh của các triều đại rất khác nhau, nhưng nguyên nhân suy vong thì chẳng khác nhau là mấy. Ðó là do tài năng yếu kém và đạo đức suy đồi của những người cầm quyền”.

Gần cuối bài ông đưa ra nhận xét: “Hôm nay…, niềm tin trong nhân dân đã trở lại, sức khỏe nền kinh tế có phần hồi phục, vị thế đất nước được lan tỏa rộng rãi. Nhìn lại năm ngoái, phải khẳng định một điều, những gì Ðảng ta đã làm trong công tác cán bộ và xây dựng Ðảng là đúng với mong muốn và nguyện vọng của toàn dân”.

Nhưng rồi ông lại viết: “Chẳng phải chúng ta đã chứng kiến những kẻ có lòng tham vô đáy lợi dụng kẽ hở của chính sách, lạm dụng quyền lực để móc túi nhân dân, rồi chính những kẻ đó và bè cánh lại tìm mọi cách để chui sâu, leo cao hơn nhằm bảo đảm cho khối tài sản ăn cắp đó tiếp tục sinh sôi, nảy nở?”. Rồi ông đặt câu hỏi: “Ðảng này, chế độ này, đất nước này sẽ đi về đâu? Cuối cùng ông trấn an: “Mỗi chúng ta rồi đây đều phải đứng trước sự phán xét công bằng của lịch sử, của dân tộc. Với niềm tin đó chúng ta cùng phấn khởi bước sang năm Mậu Tuất 2018”. (Niềm tin Đảng kiên quyết chống tham nhũng)

Tôi viết nhận thức của ông Sang là muộn, quá muộn vì đạị đa số nhân loại, trong đó có rất nhiều người Việt, đã biết nó từ rất lâu, đã nói và viết từ lâu. Hồi còn làm Chủ tịch nước ông có biết không, nếu không biết thì tại vì cái gì. Ông viết về tài năng yếu kém và đạo đức suy đồi của những người cầm quyền, về lạm dụng quyền lực, về tìm mọi cách để chui sâu leo cao. Ông có tự liên hệ không, có nghĩ đến việc đứng trước sự phán xét công bằng của lịch sử không. Ông có tự biết tài năng ông yếu kém, nhưng vì sao được ngồi vào ghế chủ tich nước không.

Tôi viết nhận thức của ông Sang là nhầm. Xin giải thích rõ hơn. Những nhận thức đó chủ yếu không sai nhưng không hoàn toàn đúng, chủ yếu là nhầm. (Riêng các ý sau là không phù hợp thực tế: Niềm tin trong nhân dân đã trở lại; và: những gì Ðảng ta đã làm là đúng với mong muốn và nguyện vọng của toàn dân”).

Trước khi nêu ý kiến cá nhân tôi xin điểm vài nhận xét cúa các tác giả khác.

Trung Nguyễn (bài: Thư gửi ông Trương Tấn Sang và giới lãnh đạo cộng sản) nhận xét rằng, “những kiến thức trong đầu các ông về thế giới và cả về đất nước Việt Nam rất lệch lạc”, rằng chế độ cộng sản không những giống mà còn tệ hơn chế độ phong kiến, thế mà ông chỉ hô khẩu hiệu và lừa dối nhau, rằng thực ra ông chẳng lo gì cho dân cho nước mà chỉ lo cho đảng cai trị.

FB Huỳnh Ngọc Chênh (bài: Nhân chuyện ông Trương Tấn Sang đọc lại lịch sử) cho rằng: “Đọc lại lịch sử để biết vượt qua cái hạn chế của tổ tiên chứ không phải học theo các phương cách cổ xưa luẩn quẩn mãi trong chuyện minh chúa hay lú chúa… Cái đất nước đang cần bây giờ là minh chế…”

Nhà bình luận Tuấn Khanh (Việt Nam Thời báo) cho rằng ông Sang chỉ viết những điều chung chung, không đưa ra được cái gì cụ thể, chỉ dẫn những sự kiện của các Triều Lý, Trần, Lê mà không đả động đến Triều Nguyễn, đã từng có nhiều thành công trong chống tham nhũng và chấn hưng đất nước.

GS Nguyễn Đăng Hưng (bài: Lời bình sau khi đọc bài viết của ông Trương Tấn Sang) nhận xét: Cái nguy hiểm trước mắt là những sai lầm chính trị, những biện pháp đàn áp đáng tiếc, phát sinh ra đối kháng giữa dân và nhà cầm quyền … Các vương triều đất Việt đi ngược lại lòng dân hay làm mất lòng dân đều tạo điều kiện cho phương Bắc thôn tính, nước nhà bước vào vòng nô lệ! Hơn bao giờ hết, ngày nay trước hiểm họa lãnh thổ, lãnh hải bị xâm phạm, trước nguy cơ bị chiếm đoạt Biển Đông, chính quyền nên ghi nhận bài học này.

Theo tôi điều nhầm lẫn lớn nhất của ông Sang cũng như của nhiều lãnh đạo khác của cộng sản trong việc đánh giá tình hình đất nước là cho rằng cái gốc của những tai họa mà đất nước và nhân dân phải chịu là sự tham lam, sự xuống cấp đạo đức của một số người cầm quyền. Họ không thấy, không chịu thừa nhận nguyên nhân gốc gác của mọi tai họa là sự độc tài toàn trị của Đảng theo Chủ nghĩa Mác Lê. Tất nhiên một mình CN Mác Lê chưa đủ để gây ra mọi tai họa mà nó kết hợp với những yếu kém của nền văn hóa, với những tính xấu của người Việt. Chính sự độc tài của cộng sản khi đã nắm chắc chính quyền, đã tạo ra trong giới lãnh đạo những người vừa tham lam vừa thiếu trí tuệ nhưng có thừa mánh lới, có thừa mưu mẹo để leo cao, luồn sâu. Họ kết với nhau thành các nhóm lợi ích. Ngoài mồm họ rêu rao vì nước, vì dân, thực chất họ chỉ lo vinh thân phì gia, lo củng cố quyền lực. Các nhóm liên kết với nhau thành một tập hợp lớn để vừa chiếm đoạt, vừa tàn phá tài nguyên của đất nước để làm giàu riêng. Ngày nay tập hợp lớn đó chính là ĐCS. Nói cách khác từ tập hớp lớn chia thành các nhóm lợi ích. Các nhóm này vì quyền lợi mà đấu đá nhau, thanh toán nhau.

Nhưng có lẽ không phải ông Sang và lãnh đạo nhầm, họ thấy rõ nhưng cố tình che giấu. Như vậy đã phạm tội lừa bịp. Họ dựng lên nào là Hội đồng lý luận, nào là các Học viện chính trị, nào là Ban Tuyên giáo các cấp để nghiên cứu, để tuyên truyền, rằng mọi sự xấu xa, mọi đồi bại là do một số người suy thoái đạo đức. Thậm chí họ cố tình làm một việc quá sai là đem trộn lẫn khái niệm suy thoái đạo đức với tự diễn biến về tư tưởng. Họ cố bế tỏa đầu óc, cố bịt mắt, cố bưng tai để không nghĩ, không thấy, không nghe đến sự tác hại muôn mặt của chế độ toàn trị của đảng. Phải thấy được chế độ cộng sản còn tồi tệ hơn chế độ phong kiến như Trung Nguyễn, thấy được cái sai lầm về chính trị và sự đàn áp đáng tiếc như Nguyễn Đăng Hưng, thấy được sự cấp thiết xây dựng một Minh Chế như Huỳnh Ngọc Chênh, thấy được nguyên nhân gốc của mọi tai họa từ trong CNML như Nguyễn Đình Cống (không phải chỉ mấy người ấy mà hàng triệu người đều thấy, họ chỉ là đại diện).

Có rất nhiều người, ngay từ đầu biết CN Mác Lê sai nên kiên quyết không công nhận (mặc dù một số vì tình thế bắt buộc phải chịu đựng). Một số khá đông đảng viên ĐCS, trong đó có các cán bộ lãnh đạo, tuy ban đầu tin vào CN Mác Lê, nhưng rồi bỗng ngộ ra rằng con đường cộng sản họ đã từng lựa chọn là sai về cơ bản, sai từ gốc. Nhận ra sai rồi, nhưng phản ứng của mỗi người là khác nhau.

Nếu ông Sang và những cán bộ, đảng viên, dù đã nghỉ hưu hay đương chức, nếu có lòng với dân với nước thì hãy dũng cảm lên tiếng kêu gọi đổi mới thể chế. Có xây dựng được thể chế thật sự dân chủ với tam quyền phân lập, mới có cơ sở loại bỏ tham nhũng đến tận gốc. Còn bài viết “Lịch sử giúp chúng ta hiểu về hiện tại, dự báo tương lai” chỉ mới chứng tỏ ông Sang đang có những phản tỉnh để làm người tử tế. Rất hy vọng ông sẽ vượt lên được chính mình để có thể vững vàng đứng trước sự phán xét của lịch sử.

————————————-

Bài thứ hai của tác giả Nguyễn Đăng Hưng

Lời bình sau khi đọc bài viết của ông Trương Tấn Sang

“Lịch sử giúp chúng ta hiểu về hiện tại, dự báo tương lai”

Hôm nay, Ông Trương Tấn Sang, cựu Ủy viên Bộ Chính trị, cựu Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam cho đăng trên báo Nhân Dân, Thanh Niên và Dân Trí một bài viết rất đáng được quan tâm.

Ông đề cập đến những vương triều chính thống của dân tộc Việt, thời Trần, thời Lê, với những suy ngẫm về lẽ thịnh suy trong lịch sử. Đặc biệt ông đề cao vai trò và hành động “phản biện” của những các tầng lớp nho sỹ các thời bấy giờ. Về cụ Chu Văn An, ông viết:

“Hơn 100 năm kể từ khi vị Hoàng đế đầu tiên của Trần triều, vào buổi sáng sớm cái ngày mà quan Tư nghiệp Quốc tử giám Chu An (Chu Văn An), bậc quốc sư dạy dỗ cho hai Hoàng đế Hiến Tông và Dụ Tông, phải chấm tay áo gạt nước mắt, treo mũ ở cửa Huyền Vũ rồi về quê dạy học, kinh thành Thăng Long vẫn vắng lặng. Tờ sớ mà ông liều thân xin chém đầu 7 tên gian thần đầu triều vẫn nằm im đâu đó trong mật viện hay trên long án… Đó cũng là cái ngày báo hiệu cho sự lung lay và sụp đổ của vương triều Trần từng một thời rực rỡ”.

Ông nhắc đến vị vua trí thức đời nhà Lê và lòng cung kính tin dùng kẻ sỹ:

“Triều Lê với những vị hoàng đế anh minh như Lê Thánh Tông, người lệnh cho danh sĩ Thân Nhân Trung soạn văn bia với câu ‘hiền tài là nguyên khí quốc gia’, đã dựa vào các nhân tài để tạo dựng hàng loạt những giá trị văn hiến truyền lại cho đời sau, đưa Đại Việt lên hàng cường quốc trong khu vực”.

Ông cũng trích dẫn và bình luận một cách xác đáng:

“Nhà bác học Lê Quý Đôn (1726 – 1784) có tổng kết 5 nguy cơ dẫn đến quốc gia suy vong là: Trẻ không kính già, trò không trọng thầy, binh kiêu tướng thoái, tham nhũng tràn lan, sĩ phu ngoảnh mặt. Cả 5 điều ấy đều là những yếu tố bên trong. Dân tộc Việt Nam không bao giờ sợ giặc ngoại xâm, chỉ sợ những người cầm quyền không đủ dũng khí để tự sửa mình, để thực hành nghiêm khắc nội bộ”.

Khá lâu rồi ta mới thấy một nhân vật từng là Chủ Tịch nước, từng là thành viên cao cấp của Bộ Chính Trị đảng cộng sản Việt Nam đề đạt và suy ngẫm về chính sách hiện nay, nhằm soi sáng những bước đi chính trị tương lai, mà dựa trên lịch sử dân tộc truyền thống, nhất là đề cao vai trò của tầng lớp trí thức.

Đây là nét mới đáng ghi nhận, nhất là nó được đăng tải chính thức trên báo Nhân Dân! Sẽ lạc quan quá đáng nếu ta cho đây là bước ngoặt thể hiện xu hướng mới của Ban Tuyên giáo?

Riêng cá nhân tôi, tôi hoan nghênh tinh thần này, tinh thần dựa vào bài học lịch sử ngàn năm của dân tộc để tìm lối ra cho những ách tắc vô cùng rối rắm hiện nay.

Tôi sẽ hoan nghênh hơn nếu ông Trương Tấn Sang xác định rõ hơn những bài học này, đặc biệt cách đào tạo và sử dụng trí thức ngày nay ở Việt Nam… Thí dụ như ngày xưa các quan được tuyển lựa nghiêm túc qua các kỳ thi, mà giai cấp nông dân hay giai cấp quan quyền đều bình đẳng ghi danh ứng thí! Còn chúng ta, đã có một thời, dưới mái nhà xã hội chủ nghĩa vào đại học đã bị hạn chế vì lý lịch và ngày nay, việc xử dụng cán bộ không được chế tài nghiêm túc mà ngược lại, những thói quen cơ cấu thân hữu, bà con thân thuộc đã thành một thông lệ tràn lan từ cấp trung ương đến các cấp tỉnh, huyện, xã…

Tôi cũng sẽ hoan nghênh hơn nếu cựu Chủ tịch nước thấy được rằng thời xưa ta gọi là phong kiến, quyền tự do sáng tác là điều có thật mà thời nay phải học hỏi. Thời xưa không hề có cái “ban tuyên giáo”, các “cục biểu diễn”… ngăn cấm văn nghệ sỹ sáng tác, sinh hoạt theo xu hướng tự do. Ta còn nhớ vua Tự Đức tuy rất cay cú với nhân vật Từ Hải trong Truyện Kiều vì câu thơ: “Dọc ngang nào biết trên đầu có ai”. Ngài đã không vì một câu thơ “khi quân” của Truyện Kiều mà ra lệnh đốt hết sách của Nguyễn Tiên Điền hay bỏ Đoạn trường Tân thanh vào cối giã để lấy giấy tái chế!

Ngoài ra, nếu lấy lịch sử dân tộc ra làm bài học cho hôm nay và ngày mai thì theo tôi, điều cốt lõi nhất là phải noi gương, là tinh thần quật cường dân tộc, truyền thống đoàn kết gắn bó giữa giới cầm quyền và người dân trong công cuộc tạo sức mạnh tổng hợp, chống xâm lược phương Bắc, dù kẻ thù có nhất thời hung hãn mạnh bạo đến bao nhiêu.

Đó là “Tuyên Ngôn Độc Lập” của Lý Thường Kiệt, đó là “Hịch Tướng Sỹ” của Trần Hưng Đạo, đó là Hội Nghị Diên Hồng, đó là “Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi, đó là lời thề giữa ba quân của Hoàng Đế Quang Trung trước khi tiến quân ra Bắc tiêu diệt quân Thanh.

Các vương triều Đại Việt, qua lời nói và việc làm, đã bảo vệ giang sơn đất nước, đã hun đúc cho giống nòi chúng ta lòng yêu nước thương dân, đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết, vận dụng khí giới vô giá đó mà củng cố lực lượng, bảo vệ bờ cõi cho Đại Việt trường tồn qua lịch sử ngàn năm. Các vương triều đất Việt đi ngược lại lòng dân hay làm mất lòng dân đều tạo điều kiện cho phương Bắc thôn tính, nước nhà bước vào vòng nô lệ!

Hơn bao giờ hết, ngày nay trước hiểm họa lãnh thổ, lãnh hải bị xâm phạm, trước nguy cơ Biển Đông bị chiếm đoạt, chính quyền nên ghi nhận bài học này.

Cái nguy hiểm trước mắt là những sai lầm chính trị, những biện pháp đàn áp đáng tiếc, phát sinh ra đối kháng giữa dân và nhà cầm quyền: Đồng Tâm, Formosa, BOT Cai Lậy, trưng thu đất dai làm dự án…

Mong thay ý tưởng dựa vào lịch sử dân tộc sẽ không dừng lại ở đây mà còn được các nhà hoạch định đường lối, chính sách, triển khai thêm trong tương lai.

Việt Nam ngày nay rất cần những giải pháp có thực chất trong giai đoạn kiến tạo, đổi mới đợt hai, thoát ra khỏi khủng hoảng triền miên, sớm đưa đất nước vào quỹ đạo phát triển bền vững, dân chủ, văn minh..

 

 

 

 

 

bài tham khảo

 

 

  • Đã đăng: 1 tuần trước đây 11.1.2018
  • Thay đổi cuối: Tháng Một 12, 2018 @ 12:14 sáng
  • Chuyên Mục Thời Sự, Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.